Kiểm soát tiếng ồn và rung động trong sản xuất như thế nào? | Wellbeing

2026-02-27 09:15:21

Tiếng ồn – Rung động trong sản xuất công nghiệp là những yếu tố có hại phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động nếu không được kiểm soát hiệu quả. Trong bối cảnh công nghiệp hóa tại Việt Nam, việc quản lý tiếng ồn – rung động không chỉ giúp giảm thiểu bệnh nghề nghiệp mà còn nâng cao năng suất lao động và tuân thủ các quy định pháp luật. 

Tiếng ồn – Rung động trong sản xuất công nghiệp là những yếu tố có hại phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động nếu không được kiểm soát hiệu quả. Trong bối cảnh công nghiệp hóa tại Việt Nam, việc quản lý tiếng ồn – rung động không chỉ giúp giảm thiểu bệnh nghề nghiệp mà còn nâng cao năng suất lao động và tuân thủ các quy định pháp luật. 

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 24:2016/BYT về tiếng ồn - Mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc, ban hành bởi Bộ Y tế, mức ồn tối đa cho phép trong 8 giờ làm việc là 85 dB(A), trong khi QCVN 27:2016/BYT quy định mức rung toàn thân không vượt quá 0,54 m/s² theo trục z và 0,38 m/s² theo trục x,y.

 

1. Định nghĩa và nguồn gốc của tiếng ồn – rung động trong sản xuất

1.1. Khái niệm cơ bản về tiếng ồn – rung động

Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh không mong muốn với cường độ và tần số khác nhau, gây khó chịu cho người nghe. Cường độ âm thanh được đo bằng decibel (dB), với tai người nghe được tần số từ 20-20.000 Hz. Trong sản xuất, tiếng ồn thường phát sinh từ máy móc như máy xẻ gỗ, máy khoan bê tông, máy phát điện, với cường độ có thể lên đến 140-160 dB. Rung động là dao động cơ học từ động cơ và dụng cụ, được đo bằng vận tốc rung (cm/s), tần số (Hz), biên độ và gia tốc. Nguồn rung động phổ biến bao gồm máy khoan đá, búa tán, máy xàng, máy dầm, thường kết hợp với tiếng ồn do hoạt động máy móc gây ra.

1.2. Nguồn gốc phổ biến của tiếng ồn – rung động trong môi trường sản xuất

Tiếng ồn - rung động thường xuất hiện đồng thời ở các ngành công nghiệp nặng như khai thác mỏ, xây dựng, cơ khí và dệt may. Việc đo lường tiếng ồn sử dụng máy đo âm thanh theo TCVN 6963:2001 về rung động và chấn động, trong khi đo rung dùng máy đo gia tốc để xác định mức độ theo trục x, y, z. Giám sát định kỳ giúp phát hiện sớm các nguồn vượt giới hạn, với khuyến nghị sử dụng hệ thống giám sát trực tuyến cho các nhà máy lớn để ghi nhận dữ liệu thời gian thực.

 

2. Tác hại của tiếng ồn - rung động đối với sức khỏe người lao động

Tác hại của tiếng ồn - rung động đối với sức khỏe người lao động

Tiếng ồn – rung động gây ra nhiều tác hại cấp tính và mãn tính. Với tiếng ồn, ảnh hưởng phụ thuộc vào cường độ, thời gian và tần số. Tiếp xúc với tiếng ồn lớn (140-160 dB) gây tổn thương lỗ tai ngay lập tức, trong khi tiếp xúc kéo dài với mức thấp hơn dẫn đến thay đổi ngưỡng thính lực tạm thời (mệt mỏi thính lực) hoặc lâu dài (điếc nghề nghiệp). Dấu hiệu ban đầu bao gồm khó hiểu lời nói trong môi trường ồn, ù tai, cần đứng gần người nói. Theo thống kê từ Bộ Y tế, năm 2022 có 73,2% trường hợp bệnh nghề nghiệp là điếc do tiếng ồn, tăng mạnh so với các năm trước, với hơn 3.800 ca phát hiện năm 2017. Tiếng ồn còn gây lo lắng, mất ngủ, loét bao tử, hồi hộp, stress, rối loạn tim mạch và tăng nguy cơ tai nạn lao động do mất thăng bằng.

Giai đoạn tiến triển bệnh do tiếng ồn bao gồm 

  • Khởi đầu: Người lao động cảm thấy nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, ù tai và bắt đầu nghe kém.
  • Tiềm ẩn: Thời kỳ này kéo dài từ 5 – 15 năm, tùy sức đề kháng của tai, thời gian tiếp xúc và tần số tiếng ồn. Cụ thể:
    • Tiếp xúc với môi trường ồn trên 105 dB(A): sau 5 năm làm việc sẽ dẫn đến tổn thương tai.
    • Tiếp xúc với môi trường ồn từ 100 – 105 dB(A): sau 10 năm.
  • Điếc nghề nghiệp: Giai đoạn này người lao động bị ù tai, nói lớn cũng không nghe. Đây là bệnh điếc nghề nghiệp, không chữa được.

Người bị điếc do nhiễm tiếng ồn cao còn bị tác hại đến hệ thần kinh và tim mạch, gây nhức đầu, rối loạn nhịp tim, xơ cứng thành mạch, cơ thể mệt mỏi dễ gây tai nạn lao động. Ngoài ra, với các rung động tần số thấp (<20 Hz) có thể gây say, tổn thương cột sống; tần số cao (20-1000 Hz) dẫn đến bệnh rung nghề nghiệp với rối loạn vận mạch, tổn thương gân, cơ, khớp, thần kinh và xương. 

Năm 2023, gần 2,5 triệu người lao động được khám sức khỏe định kỳ, phát hiện bệnh điếc chiếm 56%, trong khi bệnh rung động thường kết hợp với đau thắt lưng ở lái xe hoặc công nhân cầm tay dụng cụ rung. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm gần 2 triệu người chết do bệnh nghề nghiệp, trong đó tiếng ồn – rung động góp phần lớn ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

3. Quy định pháp luật về kiểm soát tiếng ồn – rung động tại Việt Nam

3.1. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan

Việt Nam có hệ thống quy định chặt chẽ để kiểm soát tiếng ồn – rung động. QCVN 24:2016/BYT quy định mức ồn liên tục không quá 85 dB(A) trong 8 giờ, tăng 5 dB(A) khi thời gian giảm một nửa (ví dụ 90 dB(A) cho 4 giờ, tối đa 115 dB(A) dưới 15 phút). Mức ồn cực đại không vượt 115 dB(A), và thời gian còn lại phải dưới 80 dB(A). 

Đối với các khu vực, mức khuyến nghị là ≤55 dB(A) cho lao động trí óc, ≤85 dB(A) cho phân xưởng. QCVN 27:2016/BYT quy định mức rung cho phép: gia tốc rung toàn thân ≤0,54 m/s² (trục z), ≤0,38 m/s² (trục x,y); rung cục bộ tùy tần số, không vượt quá giới hạn để tránh bệnh rung nghề nghiệp.

3.2. Trách nhiệm pháp lý và hình thức xử phạt

Luật An toàn, Vệ sinh Lao động 2015 (Điều 16) yêu cầu người sử dụng lao động đánh giá, kiểm soát yếu tố có hại, cung cấp PPE, tổ chức quan trắc môi trường lao động định kỳ. Theo QCVN 18:2021/BXD về an toàn thi công xây dựng, người sử dụng lao động phải ưu tiên máy móc ít ồn rung, bố trí công việc giảm tiếp xúc, cung cấp nút tai chống ồn (cùng mũ bảo hộ) khi vượt QCVN 24, và găng tay chống rung khi vượt QCVN 27. Vi phạm có thể bị phạt từ 80-100 triệu đồng nếu tiếng ồn vượt 25-30 dB(A), theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Hướng dẫn đo lường theo TCVN 6963:2001, sử dụng máy đo âm thanh và rung để quan trắc ít nhất 1 lần/năm, hoặc thường xuyên ở khu vực cao rủi ro.

4. Biện pháp kiểm soát tiếng ồn trong sản xuất

Kiểm soát tiếng ồn cần thực hiện từ khâu thiết kế đến vận hành. Giảm tại nguồn bằng cách sử dụng quy trình sản xuất không ồn thay thế (ví dụ ép thay đập), thiết kế máy giảm cường độ ồn qua đệm hấp thụ rung, bảo trì định kỳ siết bulông, tra dầu mỡ. Theo hướng dẫn từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thay thế vật liệu thích hợp như dùng cao su giảm ma sát trong lớn để triệt tiêu ồn. Giảm trên đường lan truyền bằng cách ly nguồn: xây tường cách âm, trồng cây xanh xung quanh nhà xưởng, đào rãnh cách âm rộng 6-10 cm, nền nhà bằng cao su hoặc cát đào sâu. Lắp bộ phận tiêu âm như hộp chống ồn, vỏ cách âm cho máy.

Bảo vệ cá nhân sử dụng nút tai dẻo hạ tiếng ồn 10-29 dB tùy tần số, bịt tai cho tiếng ồn >120 dB, bao ốp tai che kín tai và xương sọ. Theo OSHA (Mỹ, áp dụng tham khảo), chọn PPE có NRR (Noise Reduction Rating) phù hợp, kiểm tra vừa vặn. Giảm thời gian tiếp xúc bằng chế độ lao động hợp lý: bớt giờ làm hoặc xen kẽ công việc, nghỉ giải lao ở khu yên tĩnh. Không tuyển người bệnh tai vào khu ồn, tách khỏi môi trường khi phát hiện dấu hiệu điếc. Đào tạo định kỳ về tác hại, cách sử dụng PPE, theo Luật ATVSLĐ. Quan trắc bằng máy đo âm thanh để giám sát, báo cáo hàng năm.

5. Biện pháp kiểm soát rung động trong sản xuất

Kiểm soát rung động tương tự, tập trung giảm tại nguồn: thiết kế máy cân bằng trọng tâm, sử dụng động cơ giảm rung, thay thế dụng cụ rung cao bằng tự động hóa. Theo hướng dẫn từ QUATEST 3, phân tích rung động để dự đoán hư hỏng máy, sử dụng lò xo chống rung hoặc thảm cao su giảm chấn cho nền móng. Giảm trên đường lan truyền bằng cách ly: lắp đệm đàn hồi dưới máy, sử dụng nền chống rung, đào rãnh cách chấn. Bảo vệ cá nhân: găng tay đệm đàn hồi, ủng chống rung, quần áo thích hợp cho rung động toàn thân.

Giám sát rung động bằng máy đo gia tốc hoặc cảm biến địa kỹ thuật theo TCVN 6963:2001, đo định kỳ để phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp qua test máu, chụp X-quang xương. Tổ chức lao động: giảm thời gian tiếp xúc, ưu tiên cho rung cao như búa khoan, máy nén khí, đầm rung tay (đặc biệt trời lạnh). Đào tạo về rủi ro, sử dụng PPE đúng cách. Theo QCVN 18:2021/BXD, ưu tiên máy ít rung, bố trí công việc giảm tiếp xúc.

6. Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong kiểm soát tiếng ồn – rung động

Theo Luật ATVSLĐ 2015 (Điều 16), người sử dụng lao động phải đánh giá rủi ro, lập kế hoạch quan trắc môi trường lao động, cung cấp PPE miễn phí (nút tai, găng tay), tổ chức khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh nghề nghiệp. 

Theo QCVN 18:2021/BXD, ưu tiên máy móc ít ồn rung, bố trí công việc hợp lý, cung cấp dịch vụ y tế tại chỗ hoặc hợp đồng với cơ sở y tế. Phổ biến rủi ro trước thi công, huấn luyện chủ động tránh nguy cơ. Không phân công người có bệnh tim mạch, suy nhược thần kinh vào khu ồn rung cao. Bồi dưỡng sức khỏe, giảm giờ làm để tăng đề kháng. Trả lời thắc mắc phổ biến: Nếu vượt giới hạn, phải khắc phục ngay, báo cáo cơ quan lao động; khám định kỳ theo Bộ Y tế, bao gồm đo thính lực và rung động.

Bình luận:

Không có bình luận nào cho bài viết.

Viết bình luận: